Sinh Hoạt Chánh Trị:

Ra Mắt Tác Phẩm “Sống C̣n Với Dân Tộc”

của cố Kỹ Sư Hà Thúc Kư và Hội Luận “VN Trong

Thế Chiến Lược Giữa HK và Trung Cộng ở Biển Đông”

Phóng viên Xây Dựng


Trưa Chủ Nhật Ngày 31 Tháng 10, 2010, trong khi bà Ngọai Trưởng Hoa Kỳ (Bà Hillary Clinton) đang ṿng quanh các nước Á Châu để tham dự hội nghị thượng đỉnh các nước Đông Á, th́ thành phố Houston hân hạnh chào đón những người công dân ưu tú đă dành một phần đời hy sinh cho đất nước. Những vị này, từng giữ những vai tṛ quan trọng của đảng phái, trong suốt chiều dài của cuộc chiến Quốc Cộng, hôm nay có mặt tại nhà hàng Kim Sơn, để cùng nhau hội luận về  một đề tài đang ray rức trong tâm tư của khối người Việt QG hải ngọai, khi nh́n về quê hương: VN Trong Thế Chiến Lược Giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng ở Biển Đông.

2 giờ: Hội trường Kim Sơn Bellaire sang trọng, tươi đẹp hơn nhờ các tà áo dài qua lại của các bà trong nhóm Hoa Lư. Các thành viên trong BTC chuẩn bị âm thanh, Ban Tiếp Tân đón chào quan khách.

Trong hội trường giăng ngang biểu ngữ: Nhân bản, Dân chủ, Thịnh Vượng = Đường SinhTồn của Dân Tộc

Buổi hội luận này có 2 phần:

1.Ra mắt tập Hồi Kư “Sống C̣n Với Dân Tộc” của Kỹ Sư Hà Thúc Kư, vị lănh tụ thân yêu của tổ chức chánh trị tầm vóc (Đại Việt Cách Mạng Đảng, đă tạ thế ngày 16 tháng 10, 2008 tại tiểu bang Maryland, Hoa Kỳ). Sau đó, cựu Đại Sứ Bùi Diễm thay thế ông Hà Thúc Kư.

2.Hội luận chánh trị với các diễn giả: cựu Đại sứ Bùi Diễm, BS Mă Xái, Tiến sĩ Lê Minh Nguyên, cựu Dân Biểu Nguyễn Đức Cung và nhà báo Lê Văn.

Ngoài nhà báo Lê Văn, cựu chủ biên chương tŕnh Việt ngữ đài VOA, nghỉ hưu tại Houston, c̣n các vị trên đến từ nhiều tiểu bang Hoa Kỳ. Các ông là những đảng viên kỳ cựu hiện đang gĩư vai tṛ quan trọng trong Tổ Chức, dù tuổi hạc đă cao nhưng vẫn không ngừng nghỉ, quay quắt t́m phương cách, để góp phần giải thể chế độ CS độc đảng ở quê nhà.

Khai mạc lúc 2 giờ 2:20 dưới sự điều động của hai MC: ông Đinh Quang Tiến, ông Trần Trí Hoàng. Các thành viên trong nhóm Hoa Lư - tổ chức ngọai vi của Đại Việt Cách Mạng Đảng – giữ nhiệm vụ Tiếp Tân, Văn Nghệ, Tài Chánh v.v.  Chương tŕnh hội thảo qui tụ khoảng 150 người tham dự.    

Houston tháng 10 trời vào Thu nên rất đẹp. Bỏ một buổi chiều đẹp trời hứng gió ở công viên, hoặc cắm trại trên baỉ biễn Galveston, đến tham dự buổi hội luận tầm vóc này, người ta mong được nghe những cao kiến của các bậc thức giả, để đem vào ḷng chút hy vọng, bàn cờ chính trị giữa các đại cường sẽ được sắp xếp, để may ra nước VN tránh hiểm hoạ xâm lăng của Tàu Cộng, dân chúng VN sẽ có đa đảng, được hưởng những quyền tự do căn bản của con người.

Sau khi MC Đinh Quang Tiến sơ lược về tiến tŕnh sinh hoạt của Đại Việt Cách Mạng Đảng  với vị chủ tịch: Cựu Đại Sứ Bùi Diễm và BS Mă Xái, chủ tịch Tân Đại Việt, ông Tiến kết luận rằng, hậu duệ của hai đảng, tiếp tục đi nốt con đường tiến tŕnh dân chủ hoá tại VN, mà họ hy vọng sẽ giải thể trong tương lai rất gần..

-Cựu Đại Sứ Bùi Diễm tuy đă cao niên nhưng vẫn c̣n khương kiện, giọng nói sang sảng, lời phát biểu vẫn hùng hồn, ông có phong thái của một chính trị gia, linh hoạt và tạo cảm t́nh cho những ai mới gặp ông lần đầu với nụ cười thân thiện.

-BS Măi Xái, chủ tịch đảng Tân Đại Việt, cựu Dân Biểu VNCH 1967-1975, nguyên Cố vấn PG Ḥa Hảo Trung Ương, tị nạn tại HK năm 1980, hành nghề Y Sĩ  tại Florida.

Sau lời chào mừng, Đại sứ Bùi Diễm có lời cám ơn cử tọa đă bỏ một buổi chiều rất đẹp, tham dự chương tŕnh. Sự hiện diện này đă chứng tỏ sự lưu tâm đến sinh hoạt chánh trị, nhớ về đất nước.

2: 31: Phần Điểm Sách do Tiến Sĩ Lê Minh Nguyên (Nam Cali) và nhà báo Lê Văn (Houston) phụ trách. TS Nguyên hiện là Phó Chủ Tịch đảng Tân Đại Việt,  trước năm 1975 là Chủ tịch Tổng ĐoànSV của Phong Trào QG Cấp Tiến,  đến HK năm 1975, ông tiếp tục tham gia các sinh hoạt chánh trị của HK và VN. Năm 2007, ông cùng 3 nhà tranh đấu Dân Chủ khác, được TT Bush mời vào ṭa Bạch Ốc, trao đổi về các vấnd 4ề trước khi Chủ tịch nước CS sang thăm viếng HK.

Bằng một gịong miền Nam chơn chất, Tiến Sĩ Nguyên nói rằng, qua tập hồi kư của lănh tụ Hà Thúc Kư, kể lại nhiều giai đọan, khiến cho ông đă nh́n thấy h́nh ảnh và tâm sự của thời thanh niên, lúc ấy quay quắt trước hiện t́nh đất nước, đi t́m đảng phái để gia nhập. Ông kể lại sự liên hệ của ông với tác gỉa trong sinh họat đảng phái dưới thời Đệ II Cộng Hoà. Tiến sĩ Nguyên cho biết, ông gia nhập vào Phong Trào QG Cấp Tiến từ năm 1969 và họat động trong đoàn thể này từ đó cho tới hôm nay.

Trong ṿng 20 phút, Tiến Sĩ Nguyên đă ngược gịng thời gian, kể lại các câu chuyện trong nội bộ đảng, nêu lên những dữ kiện để nói lên cái nhân bản của chủ thuyết của Đại Việt Cách Mạng Đảng (của ông Hà Thúc Kư –1965) và của đảng Tân Đại Việt (cố GS Nguyễn Ngọc Huy thành lập năm 1964). Tuy cách thức tranh đấu có khác nhau nhưng bản chất giống nhau. Khi GS Huy tạ thế, ông Hà Thúc Kư đă bay qua Pháp tham dự tang lễ như trong tập hồi kư cho ghi lại.

TS Nguyên chấm dứt phần giới thiệu về tác gỉa  trong giọng nghẹn ngào khi đọc mấy câu thơ: Năm tháng đă trôi qua. Ray rứt măi đời ta. Nắng mưa miền cố thổ. Phong sương mấy độ qua đường phố. Hạt bụi nghiêng ḿnh nhớ đất quê!

2:46: Phần điểm sách của nhà báo Lê Văn. Ông Lê Văn là cộng tác viên cột trụ của đài VOA hơn 30 năm, hiện nghỉ hưu tại Houston.

Dưới đôi mắt của người làm truyền thông, không đảng phái, tập hồi kư “Sống C̣n Với Dân Tộc” đă được nhà báo ông Lê Văn phân tích tỉ mỉ với từng chương và những trang quan trọng. (Cuốn sách này có 12 Chương).  

Chương 1 và 2, tác giả kể lại thời niên thiếu cũng như hầu hết các thanh niên cùng lứa tuổi, quảng đời sinh viên, cuộc sống một công chức. Chương 3 là hiện t́nh đất nước với biến chuyển chính trị sôi nổi Nhật đảo chính Pháp, Việt Minh nắm chính quyền và tác giả đă gia nhập Giải Phóng Quân, tham gia các trận đánh chống Pháp. Chương 4, tác giả dấn thân vào chính trường, gia nhập Đại Việt Quốc Dân Đảng của lănh tụ Trương Tử Anh. Chương 5, Vua Bảo Đại trên chính trụng. Chương 6, sinh hoạt chính trị thời Ông Ngô Đ́nh Diệm, tác giả đă bị ngồi tù trên 5 năm (1958-1/11/1963). Được thả, Ông làm Tổng Trưởng Nội Vụ 4 tháng rồi từ chức v́ không hợp chính kiến. . Chương 7 với vụ Biến động Ba Ḷng khiến cho một số đảng viên của ông Hồ Thúc Kư ngồi tù. Chương 8, thời gian trốn tránh và tù tội.... Chương 9, sự phân hoá của Đại Việt.

Tóm lại từ Chương 5 trở đi là những biến động đầy sống gío trong cuộc đời tác giả dàn trải cho đến Chương cuối cùng (12), tác giả nh́n lại chặng đường đi qua khi tuổi đă cao.

Kết Luận: Chúng tôi cũng có chung cảm nghĩ với nhà báo Lê Văn khi đọc xong cuốn sách, trong ḷng dấy lên một sự ngậm ngùi, thương cảm số phận long đong bi đát của một đảng phái và cá nhân của Kỹ Sư Hà Thúc Kư, một người suốt một đời hy sinh cho quốc gia, dân tộc.

Chú thích cuả người viết: Đây là một tập Hồi Kư chính trị, nhưng không khô khan, chứa đầy dữ kiện sống thực trong một giai đọan lịch sử đă xảy ra trong cuộc đời đấu tranh của một lănh tụ,  đáng cho chúng ta bỏ th́ giờ đọc (đóng gáy, b́a cứng, dày gần 400  trang, giá bán 25 đô la).

3 giờ 12: Phần thuyết tŕnh của cựu Dân Biểu tỉnh Quảng Nam, ông Nguyễn Đức Cung, đến từ New Jersey, Philadelphia, là cựu Dân Biểu Quốc Hội VNCH từ năm 1971-1975, tù chính trị từ năm 1975-1988, hiện là Chủ tịch Hội đồng Nghiên Cứu Sách Lược của Đại Việt Cách Mạng Đảng.

Dân biểu Cung có giọng nói hùng hồn và tài hùng biện, ông đem chủ nghĩa Sinh Tồn Dân Tộc ra luận bàn từng chi tiết, của sự kiện có Nhân Bản th́ mới có Dân Chủ từ đó mới có Thịnh Vượng và đó là con đường sinh tử của dân tộc. Ông nêu ra câu nói của TT Diệm: “Không có ǵ quí hơn nồi gạo của nhân dân”, câu nói của Phan Bội Châu và nêu các dữ kiện lịch sử ra để chứng minh và kết luận rằng, nếu có sự đồng tâm nhất trí cùa dân th́ mới tạo sự đoàn kết. Ḷng dân là yếu tố quyết định trong mọi công cuộc chiến đấu.. Bài thuyết tŕnh giá trị, cộng thêm cách diển giảng hùng hồn, đă thu hút cử tọa. Chúng tôi phổ biến trong trong số báo này.

Bốn giờ: Phần Hội thảo kéo dài đến 5 giờ 30. BS Mă Xái (Florida), Đại sứ Bùi Diễm (Washington DC), Tiến Sĩ Lê Minh Nguyên (Nam Cali), Dân biểu Nguyễn Đức Cung  (New Jersey) và nhà báo Lê Văn (Houston), nêu ra 2 câu hỏi:

-Chúng ta nghĩ ǵ, làm ǵ để chống lại chủ trương bá quyền của Trung Cộng.

-Hướng đi tương lai của chúng ta như thế nào?

Chủ tọa đoàn thay phiên nhau tŕnh bày các sự việc chính trị xảy ra trên nội bộ chính trừờng của Trung Quốc, của Hoa Kỳ, liên quan đến VN hiện nay và chánh quyền CS VN hiện nay đang ở con đường: đi với Tàu để cứu đảng nhưng mất nước, đi với Hoa Kỳ th́ mất đảng nhưng cứu nước. Chủ tọa đoàn cũng nêu lên  những nhận định rất chi tiết về nội t́nh của Trung Quốc, của Hoa Kỳ và của VN:

Có nhiều câu hỏi của: phu quân của NS Chu Mỹ Dung (Liên danh Gió Mới), ông Hoàng Bách (đài Tiếng Nước Tôi), ông Nguyễn Quốc Cường (Báo Ngày Nay), bà Hoàng Minh Thúy (báo Xây Dựng), NS Chu Mỹ Dung . . v.v.

 Tóm lại, người dân hải ngọai bây giờ không c̣n cầm súng được, th́ mỗi người phải góp một bàn tay, tùy theo khả năng, tạo nên dư luận Quốc Tế, v́ Trung Quốc sẽ không dám ngang nhiên xâm chiếm VN..

-Ngướ dân cân phải kiên nhẫn trong sự đấu tranh.

-Về các thành viên trong đảng phái , làm sao tạo được sự cảm thông gĩữa đảng phái và dân chúng trong cộng đồng, mới đạt hiệu qủa.

-Người dân đừng đ̣i hoỉ nơi đảng phái quá nhiều. Họ cũng gặp nhiều khó khăn, không có tài trợ, sinh họat bằng tiền túi.

-Phải có đồng bào quốc nội dựa vào tinh thần dân tộc, ái quốc đứng lên làm Cách mạng

                ****

Chương tŕnh hội thảo chấm dứt lúc 5 giờ ba mươi, cựu Đại Sứ Bùi Diễm (88 tuổi) chân thành cám ơn quí vị có mặt để hội luận về một đề tài rất khô khan, trong buổi chiều cuối tuần rất đẹp. Rất mong tương  lai anh em Đại Việt sẽ có cơ hội được dịp tiếp xúc.

Buổi sinh họat chính trị này rất giá trị và bổ ích cho những ai nặng ḷng ưu tư về cố quốc, tiếc là trong cộng đồng đang có sự phân hóa của việc tranh cử vào chức vụ Đại Diện của Cộng Đồng NVQG nên không đông đảo khán giả như mong muốn.

Giữa các tiết mục khô khan này, có những màn văn nghệ xen giữa chương tŕnh do ca sĩ Mimi, ca sĩ Quang Vinh và one man band Quốc Tuấn./.

    Phóng viên Xây Dựng

 

 

KINH NGHIỆM SỐNG C̉N CỦA DÂN TỘC

QUA  BÀI HỌC LỊCH SỬ *

Nguyễn Đức Cung

Cách đây hơn 20 thế kỷ, Marcus Tullius Cicero (106-43 trước CN), một nhà hùng biện kiêm chính khách cổ La Mă, có nói một câu đáng lưu ư: Lịch sử là thầy dạy của cuộc đời. (Historia magistra vitae). Câu nói này là một nhắc nhở thường xuyên cho nhân loại nhất là đối với những ai dấn thân phục vụ lư tưởng đời ḿnh trong một đoàn thể chính trị quốc gia. Câu nói có một giá trị tổng quát và trường cửu có thể áp dụng cho nhiều người, nhiều thế hệ, trong mọi nơi và ở bất cứ thời đại nào. Đối với những ai hằng suy tư đến sự sống c̣n của một dân tộc, một đất nước th́ lịch sử cung cấp nhiều bài học về lẽ hưng vong, suy thịnh để rút ra từ đó đường lối hành xử khôn ngoan đưa đến sự thắng lợi, trường tồn vinh quang hay cũng dẫn vào con đường bại hoại, thê lương và hủy diệt.

Trong những năm gần đây, khi nhà cầm quyền Cộng Sản tại Việt Nam đă có nhiều hành động đi ngược lại quyền lợi tối thiêng của đất nước như để mất nhiều đất đai trên bộ và dưới biển vào tay của Trung Quốc, cho TQ tự do khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, cho thuê đất trồng rừng ở các tỉnh Miền Bắc, nhắm mắt làm ngơ trước những hành vi sách nhiễu, đàn áp ngư dân Việt Nam ở Biển Đông, mọi người trong nước cững như hải ngoại đă lên tiếng phản đối bạo quyền CS và báo động về sự sống c̣n của dân tộc trước hiểm họa Bắc Phương. Việt Nam c̣n có thể đứng vững được không ? Những người vốn ưu thời mẫn thế thường nêu câu hỏi như vậy, và nếu câu trả lời là có th́ nhân tố nào khiến cho đất nước VN đứng vững qua trường kỳ lịch sử ? Rồi nữa, trước các thách đố của băo táp lịch sử như hiện nay, khả năng của một chủ nghĩa chính trị như chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn liệu c̣n có được những đáp ứng thích đáng cho t́nh thế mới của đất nước hay không?  

1.- Đi t́m nhân tố căn bản trong các cuộc vận hành của lịch sử đất nước.

Trong cuốn hồi kư Sống C̣n Với Dân Tộc, tác giả Hà Thúc Kư đă khẳng định: Con đường chông gai chúng ta đă đi từ mấy chục năm qua, kế tục truyền thống cách mạng của cố Đảng Trưởng Ttrương Tử Anh, là con đường chính nghĩa.”[1]  Con đường chính nghĩa này tất nhiên phải được xây đắp bằng một hệ tư tưởng mang đậm tính dân tộc chứng minh qua từng trang lịch sử của dân tộc Việt Nam mà cố Đảng Trưởng đă cô đọng hóa tuy với những trang bút tích ngắn ngủi nhưng súc tích của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn.

Cũng chính lúc này đây, khi mà sinh mệnh của một dân tộc đang ở trong t́nh trạng “sợi tóc treo ngh́n cân”, chúng ta mới thấy được căn bản vận hành của lịch sử dân tộc và viễn kiến khả thi của một chủ nghĩa chính trị do Đảng Trưởng Trương Tử Anh đề ra mà bất cứ anh chị em đảng viên Đại Việt dù thuộc hệ phái nào cũng nghe được tiếng vọng từ trong tâm thức, hănh diện với con đường đă đi nhưng cũng trăn trở lo toan trước những t́nh huống phức tạp hiện tại từ nhận thức tư tưởng đến phương pháp đấu tranh của một Việt Nam đang bồng bềnh trôi nổi giữa các thế chiến lược của hai đại cường Hoa Kỳ và Trung Cộng.

Đọc lại lịch sử của bất cứ một quốc gia nào, ai cũng thấy rằng thành phần nhân dân là yếu tố then chốt trong việc h́nh thành và vận hành lịch sử một đất nước. Sự quan trọng của mọi tầng lớp nhân dân đọ sức với cỗ máy thời gian phản ánh rơ nét trong câu nói mang tính Việt Nam “quan nhất thời, dân vạn đại”. Việt Nam là một quốc gia theo nền văn minh nông nghiệp từ gần hai ngh́n năm nay cho nên lực lượng nhân dân chuyên về các nghề lao động xưa nay vẫn là thành phần cốt cán của đất nước. Vả chăng bởi v́ nghề nông là một nghề chính ở nước ta nên chính sách quân sự của các triều đại trước đây đều theo kế hoạch “ngụ binh ư nông” trong thời b́nh, hoặc chính sách “đồn điền” tức kế hoạch bán vũ trang trong thời mở nước cũng đều nói lên tầm quan trọng của vai tṛ người dân trong các chính sách cứu quốc và kiến quốc.

Các quốc gia Tây phương cũng như Đông phương đều đề cao ư kiến của người dân và coi đó là ư của Thượng Đế bởi vậy cho nên mới có câu “Ư dân là ư Trời” (Vox populi, vox Dei).

Dưới thời nhà Lư, trong bài Chiếu dời đô  vào tháng 7 năm Canh Tuất (1010), Lư Thái Tổ (974-1028) có viết rằng: “Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ư riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ư dân, nếu có chỗ tiện th́ dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh...” [2]

Lư Thánh Tông (1023-1072) là một ông vua nhân từ có tiếng trong lịch sử Việt Nam. Sách Đại Việt Sử Kư Toàn Thư có chép: “Mùa đông, tháng 10 [1055] đại hàn, vua bảo các quan tả hữu rằng: “Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn c̣n rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rơ gian ngay, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ v́ gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu, và cấp cơm ăn ngày hai bữa.”[3] Việc làm này đă khiến cho sử thần Ngô Sĩ Liên đánh giá rằng: “Xót thương v́ h́nh ngục, nhân từ với nhân dân là việc đầu tiên của vương chính.”[4]

Trong giai đoạn nhà Trần, khi vua Trần Thái Tông (1218-1277) lên núi, định bỏ ngai vàng đi tu, dân chúng và triều đ́nh muốn vua trở lại, Trúc Lâm Quốc Sư đă nói với vua rằng: “ Đă làm vua th́ không c̣n có thể theo ư thích riêng ḿnh được nữa. Phải lấy ư muốn của dân làm ư muốn của ḿnh, phải lấy ḷng dân làm ḷng của ḿnh. Nay dân đă muốn vua về th́ vua không về làm sao được.” [5]

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, sau hội nghị B́nh Than, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn công bố bài Hịch t́ tướng để khích động tinh thần yêu nước của tướng sĩ.  Qua tác phẩm Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, các tác giả Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm viết: “Nhưng tinh thần quyết tâm chống giặc nếu chỉ hạn chế trong những người lănh đạo, trong vương hầu bách quan, trong tướng lĩnh và chiến sĩ th́ hoàn toàn chưa đủ. Muốn chiến thắng được quân khổng lồ và thiện chiến của Thoát Hoan và A-ric Kha-y-a, cần có sự tham gia chống giặc của toàn thể nhân dân. Vương triều Trần đă nhận thức được vai tṛ của nhân dân qua cuộc kháng chiến lần thứ nhất năm 1258. Cho đến nay, trước một cuộc chiến tranh mới, vương triều Trần đă t́m đến sự ủng hộ của nhân dân. Vào tháng chạp năm Giáp Thân niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6 (1285), Thượng hoàng Thánh Tông đă triệu tập phụ lăo trong nước về kinh đô Thăng Long, đặt tiệc ở thềm điện Diên Hồng, hỏi kế đánh giặc. Trả lời cho câu hỏi của vua Trần là nên đánh hay không, các phụ lăo đă đồng thanh hô “Đánh”, “vạn người cùng nói như từ một miệng”. [6]

Hưng Đạo Vương làm quan đến đời vua Anh-Tông th́ xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Khi ngài sắp mất, vua Anh-Tông có ngự giá đến thăm, nhận thấy ngài bệnh nặng, mới hỏi rằng: “Thượng-phụ một mai khuất núi, phỏng có quân bắc lại sang th́ làm thế nào? “ Hưng Đạo Vương trả lời: “ Ta nên kén dùng tướng giỏi, liệu xem quyền biến, ví như đánh cờ, phải tùy cơ mà ứng biến, dùng binh phải đồng ḷng như cha con một nhà, th́ mới có thể đánh được. Cách ấy cốt phải tự lúc b́nh th́ khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là cái thuật giữ nước hay hơn cả.” [7] Theo quan điểm Nho Giáo việc cướp ngôi vua hay làm việc soán đoạt ngai vàng là một trọng tội. Trong thời Nhuận Hồ, Hồ Qúy Ly sau khi cướp ngôi nhà Trần ba năm đă muốn nhường ngôi lại cho con thứ là Hán Thương. Hán Thương và em là Nguyên Trừng có mẹ là Huy Ninh công chúa, là con gái Trần Minh Tông. Trước kia Quư Ly vẫn có ư muốn lập Hán Thương nối ngôi nhưng chưa quả quyết, bèn ngụ ư vào cái nghiên đá, ra một câu đối cho Nguyên Trừng đối lại, để ḍ xét khí khái Nguyên Trừng: “Thử nhất  quyền kỳ thạch, hữu thời vi vân, vi vũ, dĩ nhuận sinh dân.” (Viên đá nhỏ bằng nắm tay, có lúc làm mây, làm mưa, để thấm nhuần cho nhân dân). Nguyên Trừng đối lại: “Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống, tác lương, dĩ phù xă tắc” (Cây thông nhỏ chừng ba tấc, sau này làm cột, làm xà, để phù tŕ xă tắc). Ư Hán Thương nói tài ḿnh chỉ đáng giúp nước, không đáng làm vua. Quư Ly bèn lập Hán Thương nối ngôi. Câu đối của Quư Ly có mấy chữ “dĩ nhuận sinh dân” cũng nói lên được tấm ḷng của ông đối với con dân trong nước nhưng tiếc thay triều đại của ông quá ngắn trước nạn xâm lăng của Bắc phương. [8]

Tháng 9 năm ất dậu (1405), Hán Thương hội họp các quan văn vơ trong kinh thành và ngoài các lộ bàn về kế hoạch nên đánh hay nên ḥa. Lúc ấy có người khuyên nên đánh, nói: “Không nên để quân Minh kéo vào nước sẽ làm mối lo sau này.”Nguyễn Quân, trấn phủ Bắc Giang, cho rằng hăy nên tạm ḥa, chiều theo ư muốn bên địch, để hoăn binh th́ hơn. Tả Tướng quốc là Trừng nói: “Tôi không sợ đánh, chỉ sợ ḷng dân có theo hay không theo mà thôi”. Quư Ly đem cái hộp bằng vàng ban cho Trừng. [9]

Tháng giêng năm ất tị (1425), khi B́nh Định Vương Lê Lợi đem binh về đánh thành Nghệ An, đi đến làng Đa-lôi ở huyện Thổ-du (bây giờ là huyện Thanh chương) dân chúng đưa trâu đưa rượu ra đón rước, già trẻ đều nói rằng: “Không ngờ ngày nay lại thấy uy nghi nước cũ.” Vương bèn xuống lệnh rằng: “Dân ta lâu nay đă phải khổ sở về chính trị bạo ngược của người Tàu, quân ta đi đến đâu cấm không được xâm phạm  đến chút ǵ của ai. Những gạo thóc trâu ḅ mà không phải là của người nhà Minh th́ không được lấy.”[10]

Trong bài B́nh Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trải đă viết thay Lê Lợi nhắc đến t́nh trạng người dân trong cơn quốc biến: “V́ họ Hồ chính sự phiền hà, để trong nước nhân dân oán bạn. Quân cuồng Minh đă thừa cơ tứ ngược, bọn gian tà c̣n bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.” [11] Ở một đoạn khác của bài hịch này, Nguyễn Trải ca tụng tinh thần thương yêu giữa tướng sĩ, ba quân tất cả đều xuất thân từ quần chúng nhân dân: “Múa đầu gậy, ngọn cờ phấp phới, ngóng vân nghê bốn cơi đan hồ. Mở tiệc quân, chén rượu ngọt ngào, khắp tướng sĩ một ḷng phụ tử.” [12]

Trong trận ra Bắc phá giặc Thanh năm kỷ dậu (1789), Quang Trung sau khi quét sạch giặc Thanh, đă bắt được tờ mật-dụ của vua Càn-Long, thấy được ư đồ lâu dài của Trung Hoa, nên đem tờ mật-dụ đó bảo với Ngô Th́ Nhậm rằng: “ Ta xem tờ chiếu của vua nhà Thanh chẳng qua cũng muốn mượn tiếng để lấy nước ta đó thôi. Nay đă bị ta đánh thua một trận, tất là lấy làm xấu hổ, chắc không chịu ở yên. Hai nước mà đánh nhau th́ chỉ khổ dân. Vậy nên dùng lời nói khéo, để khiến cho khỏi sự binh đao; việc ấy nhờ nhà ngươi chủ trương cho mới được.”[13]

Đọc đoạn văn này mới thấy sự khôn ngoan của người cầm quyền, biết ứng xử trong hoàn cảnh chính trị phức tạp.

Ư thức chính trị dưới thời phong kiến chắc hẳn mang đậm đà ảnh hưởng của Mạnh Tử khi ông nói rằng: “Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh”, đă truyền đạt chân lư đó về sau cho đến đầu thế kỷ XX vẫn có người viết trong tác phẩm Diên Lộc Quận Công Đại Sự Kư những câu như sau:

 “Vả lại dân mới là cái gốc của nước, gốc vững th́ nước yên, vậy nước trị vốn lấy việc được dân làm gốc, sai khiến dân đúng lúc th́ dân yên ổn với cái sinh thú của họ. Dân có cơ chế sẽ yên với nghề nghiệp của ḿnh, đă yên lại vui ắt đều mới biết đến cái ơn đức của quốc gia, thân mới người trên mà chết v́ người lớn của ḿnh, cho dầu có bị kẻ ngoài dụ dỗ cũng không bị chao đảo v́ bên ngoài; hoặc lấy cái không thể thay đổi làm điều dựa cậy mà chẳng phải lo lắng ǵ cả th́ cái đó tức là dân vậy.” [14]

Người dân Việt Nam quê mùa, chơn chất nhưng cũng có lúc đă bày tỏ sức mạnh của ḿnh qua câu nói: “Quan có cần nhưng dân chưa vội, quan có vội quan lội quan đi.” Lịch sử cũng xác quyết : “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong.”

Gạn đục khơi trong một số tư liệu dẫn ra trên đây để thấy rằng dù được dẫn dắc bởi các bậc vua quan thời phong kiến hay bởi hàng ngũ tầng lớp văn thân nho sĩ, quần chúng nhân dân vẫn là động lực chính của bánh xe lịch sử và là nhân tố tích cực xây dựng đất nước. Bỏ dân, xa ĺa dân, thậm chí trở lại đàn áp dân chính là giơ chân đạp vào mũi chông dựng ngược, là tự đào hố chôn ḿnh. 

Cách đây hơn hai ngh́n năm, Mạnh Tử đă nói: “Vua coi dân như tay chân, th́ dân coi vua như ḷng ruột. Vua coi dân như cỏ rác th́ dân coi vua như kẻ thù.” Vị á thánh của Khổng giáo này c̣n nói một câu  khác như là lời cảnh cáo bọn độc tài : “Một khi dân không sợ chết th́ đừng lấy cái chết dọa dân.”

Cố Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm có nói một câu rất thực tế, nói lên tấm ḷng thương dân của ḿnh: “Không có ǵ quư hơn nồi cơm của người dân”.

Ngày 3-10-2010, Ôn Gia Bảo, Thủ Tướng Trung Quốc đă nói với kư giả Fareed Zakaria qua một cuộc phỏng vấn: “Chính nhân dân và sức mạnh của nhân dân sẽ quyết định tương lai của quốc gia này và lịch sử. Không ai có thể ngăn cản nổi ước vọng và ư chí của nhân dân.”

Với luận điệu rất bịp bợm mị dân, trong một bài báo có tên Dân vận kư dưới bút danh X.Y.Z., được đăng lại trên Nhật báo Nhân Dân số 20132, ra ngày 15-10-1949), Hồ Chí Minh viết rằng: “Bao nhiêu lợi ích đều v́ dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốcx là công việc của dân...” (trích báo Sự Thật ngày 15-10-1949).

Người Cộng sản TQ hay VN nói vậy nhưng thực tế họ hành động cách khác. Họ coi dân là “khấu thù” như lời nói của Mạnh Tử.

2.-  Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn: thách đố và đáp ứng cần thiết cho t́nh h́nh đất nước hiện tại.

Một sử gia nổi tiếng người Anh, Arnold J. Toynbee trong bộ sử The Study of History gồm 12 pho xuất bản ở Luân-đôn và Nữu-ước từ năm 1934 đến 1961 và đăø được D.C. Somervell tóm lược dưới nhan đề History, an essay of interpretation đă đưa ra nhận định rằng: “Sự phát triển hay suy đồi của các nền văn minh bị chi phối bởi một định luật, định luật challenge và response, tức là sự đáp ứng trước những thách đố do môi trường thiên nhiên hay xă hội đưa đến. Có tiến bộ là nhờ ở một sự thách đố gây nên một đáp ứng thành công; sự đáp ứng này lại tạo nên một thách đố mới mà cần phải t́m một đáp ứng thỏa đáng khác...”  [15] Nền văn minh của một xă hội cũng giống cuộc sống của một con người nghĩa là cũng có những giai đoạn lớn lên, phát triển, trưởng thành rồi hủy diệt. Văn minh của xă hội là phản ánh cảm thức của con người qua nhiều phương diện.

      Trong một quốc gia, các tổ chức chính trị (chính đảng) cũng được xem như những thành tố của nền văn minh xă hội nên định luật thách đố và đáp ứng nếu đă đem lại lời giải đáp về sự tồn tại hay biến mất của một nền văn minh th́ cũng có thể giải thích lư do tồn tại hay diệt vong của một chính đảng trong quốc gia thể hiện qua chủ nghĩa ḿnh theo đuổi. Vả chăng sinh hoạt của chính đảng là ǵ nếu không phải là nỗ lực chung của một tập thể hướng về các mục tiêu tranh đấu trong một giai đoạn lịch sử nào đó. Các chủ thuyết chính trị của một vài chính đảng quốc gia kỳ cựu c̣n tồn tại ở hải ngoại hay ở trong nước như Đại Việt hay Việt Quốc có đáp ứng được những thách đố cam go của đất nước hay không ?

 Chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn được thai nghén từ năm 1936 và công bố năm 1939 vào một thời điểm mà cái tên Việt Nam đă bị xóa trên bản đồ Đông Dương và chỉ c̣n có tên là Xứ Đông Pháp.

Trong bản Tuyên Ngôn Đại Việt Quốc Dân Đảng năm 1939 có vạch rơ rằng: “Chỉ có ta mới thực sự v́ sự sống c̣n, v́ hạnh phúc của ta mà thôi. Ỷ lại vào người, tin vào người là dắt nhau vào con đường diệt vong.” [16] Đây là một nguyên lư tuyệt đối trong ứng xử mà bất kỳ thời đại nào, bất cứ không gian nào cũng đều được tuân theo. Không ai lo cho sự sống c̣n của ta cho bằng chính bản thân ta. Không ai t́m kiếm hạnh phúc cho ta nếu ḿnh không tự t́m lấy. Khi mạng sống của một con người bị đe dọa, khi vận mệnh của một dân tộc bị thử thách th́ con ngươi đó, dân tộc đó phải tự đấu tranh để khỏi bị đe dọa, phải tự t́m kiếm con đường ra khỏi cuộc thử thách.

Năm 1558, trước âm mưu đe dọa thanh toán của anh rể là Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đă cho người ra Hải Dương vấn kế Nguyễn Bỉnh Khiêm và cụ Trạng Tŕnh đă chỉ cho Nguyễn Hoàng một con đường để sống c̣n đó là “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Nguyễn Hoàng đă quyết tâm t́m vào Đàng Trong để xây dựng cho ḿnh một sự nghiệp đại không ai sánh được trong lịch sử.

Châm ngôn của phương Tây có câu: “Anh hăy tự giúp ḿnh đi rồi Trời sẽ giúp sau”(Aide-toi, le Ciel t'aidera) và tư tưởng này có khả năng đánh đổ tính ỷ lại hay thói quen dựa cậy vào người khác khiến cho con người mất sáng kiến cá nhân và v́ vậy mất luôn cả ư thức tự do hành động hay xử trí công việc.

Nói đến tính ỷ lại vào người hay tin vào người thật ra cũng bao hàm nhiều lănh vực thí dụ tiền bạc, tư tưởng, sáng kiến v.v...

Về tiền bạc, tính ỷ lại hay mánh khóe khai thác vốn là sở trường của Nguyễn Ái Quốc trong những năm của thập niên 20 thế kỷ trước khi ông nhận tiền lương của Đảng Cộng Sản Pháp, và khi trở thành nhân viên của Đệ Tam Quốc Tế làm việc cho Đông Phương Bộ của Liên Xô hoạt động tại Trung Quốc.

Trong bài viết có tên Cái đúng và cái giả dối về chuyện Hồ Chí Minh đăng trong tác phẩm Hồ Chí Minh, Sự thật về Thân thế & Sự Nghiệp, tac giả Tôn Thất Thiện cho biết trong chuyến đi từ Pháp qua Mạc Tư Khoa năm 1923, Hồ Chí Minh “đă nhận của đảng Cộng Sản Pháp 1.000 quan để chi phí. Vào thời đó là một số tiền lớn (một sinh viên có thể sống trong năm tháng. Ở Đức nó lại càng trở nên lớn hơn v́ lạm phát nhảy vọt hoành hành nước này.”[17] Trong tác phẩm Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, nhà sử học Tưởng Vĩnh Kính cho biết sự tài trợ của Cộng Sản Quốc Tế với Hồ Chí Minh như sau: “Rồi đến tháng 10 năm ấy (tức năm 1930), trong đại hội đại biểu kỳ I được cử hành tại Hương Cảng, tên đảng lại được đổi thành Đảng Cộng Sản Đông Dương. Cơ sở tổng bộ được dời về quốc nội. Bí thư đầu tiên của đảng là Trần Phú (bí danh Lí Quí), người đă từng được huấn luyện ở Nga. Tháng 4, 1931, Trần Phú bị nhà đương cuộc Pháp-Việt bắt tại Sài G̣n, và đă chết trong tù. Lúc này, đảng ấy mới chính thức gia nhập Cộng Sản Quốc Tế, mỗi tháng nhận được 5.000 quan Pháp (tương đương 1.250 Mĩ kim) tiền trợ cấp.” [18] Nhận tiền của đảng Cộng sản Pháp, ngân khoản của đảng Cộng sản Liên Xô tức phải làm việc cho các tổ chức này. Họ Hồ có phương tiện sinh sống và đi nơi này nơi khác mà không phải lo toan về sinh kế nên trở thành công cụ của CS Pháp hay Mạc Tư Khoa trong khi các nhà cách mạng Việt Nam như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Hải Thần, Đăïng Tử Kính, các thanh niên trong tổ chức Tâm Tâm Xă v.v... phải lao đao vất vả mới sống được.

Về tư tưởng, Hồ Chí Minh cũng hoàn toàn ỷ lại vào Quốc Tế Cộng Sản. Trong Đại Hội 2 đảng CSVN tổ chức vào tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang với đảng danh mới là đảng Lao Động Việt Nam, Hồ chí Minh tuyên bố: “Về lư luận, đảng Lao Động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin... lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam.” Ông Hồ đă nhiều lần tuyên bố với mọi người rằng: “Không, tôi không có tư tưởng nào ngoài chủ nghĩa Mác-Lênin.” V́ tin tưởng các nhà lănh đạo Liên Xô, Trung Quốc một cách cuồng tín, không dám đưa ra một lời phê phán nào, từ đó mất tính sáng tạo, thui chột tư duy, họ Hồ từng nói: “Ai đó th́ có thể sai, chứ các đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông th́ không thể nào sai lầm được.”

Về phương thức hành động, tổ chức và kinh nghiệm, Hồ Chí Minh vay mượn hoàn toàn của Quốc tế vô sản, bất chấp các hệ quả tai hại cho dân tộc và đất nước thí dụ việc cướp chính quyền năm 1945 và thanh toán các tổ chức chính trị đối lập, cuộc cải cách ruộng đất 1953-56, bỏ tù các thành phần dân, quân, cán, chính VNCH năm 1975, loại trừ MTGPMN, tiêu diệt và đàn áp các tôn giáo v.v...

Bằng một cái nh́n khái quát, chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn có thể được biểu trưng qua một tam đoạn luận như sau:

1.-Muốn sống c̣n phải tranh đấu;

2.-Muốn tranh đấu phải có sức mạnh;

3.-Muốn có sức mạnh phải đoàn kết.

Với những quan điểm dung dị đó, chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn đưa ra tiêu đề thứ nhất của tam đoạn luận, đó là “Muốn sống c̣n phải tranh đấu” bởi v́ trường đời là một cuộc tranh đấu hay rơ hơn “Sống là tranh đấu” (Vivre c'est lutter). Có tranh đấu th́ cuộc sống mới có ư nghĩa. Tiền bạc do ḿnh làm ra, do đầu óc hoặc tay chân mang lại chắc chắn có giá trị hơn tiền bạc bất ngờ nhặt được, tham nhũng, ăn cắp hay xin xỏ người khác. Tranh đấu để vượt lên tính ỷ lại, lười biếng, sân si, là một hành động tự giác, là hành vi vượt lên cái tôi nặng nề, đờ đẫn v́ cảnh phù trầm của lợi danh. “Miệng đói th́ đầu gối phải ḅ”, “ tay làm hàm nhai”là những câu nói mang tính thực tế nhưng rất Việt Nam lại cũng rất gần với chủ nghĩa thực tiễn Mỹ (pragmatism). Sinh tồn tức là sống và c̣n, sinh hoạt và tồn tại.

Với tiêu đề “muốn tranh đấu phải có sức mạnh”, chủ nghĩa đưa ta đến nội dung thứ hai của tam đoạn luận mà ư nghĩa cốt lơi nằm trong hai chữ sức mạnh. Theo triết lư nhị nguyên, dĩ nhiên ai cũng biết con người gồm có xác và hồn th́ sức mạnh cũng bao hàm hai thể loại vật chất và tinh thần. Sức mạnh của tư tưởng, ng̣i bút chắc chắn phải khác với sức mạnh của cái cuốc hay bắp cày.

Chẳng tham ruộng cả ao liền,

Tham v́ cái bút, cái nghiên anh đồ.

Các phẩm trật chức vị trong triều đ́nh phong kiến ngày xưa cũng khiến người ta làm cuộc so sánh giữa văn quan và vơ tướng tượng trưng cho hai lĩnh vực của cuộc sống;

Quan văn tứ phẩm đă sang,

Quan   nhị phẩm phải mang gươm hầu.

Bởi vậy, có cách biệt là có ghen ghét, tị hiềm:

Trâu buộc th́ ghét trâu ăn,

Quan vơ th́ ghét quan văn dài quần.

Nhưng Mao Trạch Đông lại có một câu nói hết sức tàn nhẫn phũ phàng:” Trí thức không bằng cục phân.”sau khi phong trào “Bách hoa giai phóng, bách gia tề minh.”kêu gọi tầng lớp trí thức Trung Quốc góp ư với nhà nước đảng bị dẹp tan. [19] Tuy vậy, cũng có người đưa ra quan điểm: “Ng̣i bút mạnh hơn lưỡi gươm” hay là “Sức mạnh của một ng̣i bút có khi c̣n hơn cả một sư đoàn.”

Câu nói của Tây phương ngày xưa “Một tinh thần minh mẫn trong một thân xác tráng kiện”(Mens sana in corpora sano) nói lên khuôn mẫu của một con người mạnh mẽ, vững vàng. Từ cá nhân đến tập thể, từ gia đ́nh đến xă hội, yếu tố sức mạnh luôn luôn là điều kiện cần thiết cho mọi sinh hoạt nhất là trong lănh vực rộng lớn là dân tộc, quốc gia. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Có cứng mới đứng đầu gió” hay câu ca dao:”Nước lă mà vả nên hồ, Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan” để khen những người có bản lănh xây dựng nên sự nghiệp từ tay không.

Tiếp theo, tiêu đề “muốn có sức mạnh phải đoàn kết” trong tam đoạn luận của chủ nghĩa nêu ra một yêu cầu cao độ, một điều kiện tối cần mà một câu tục dao pháp lư của tiếng La Tinh nói rằng : “không có cái này th́ không có cái kia ” (sine qua non).

Một cây làm chẳng nên non,

Ba cây chụm lại nên ḥn núi cao.

Người Mỹ có câu: “United we stand” (Hợp quần chúng ta mới đứng vững được). Lịch sử nước ta có biết bao trường hợp minh chứng sức đoàn kết của toàn dân đem lại chiến thắng cho đất nước mà ở phần trên chúng ta đă dẫn ra. Câu chuyện bó đũa trong cổ tích Việt Nam là tượng trưng cho tinh thần đoàn kết không ai phá vỡ được, rất cụ thể mà ai cũng biết. Chính sách “chia để trị” (divide ut regnes) thường được các nhà cầm quyền trên thế giới áp dụng trong thủ thuật cai trị, bằng chứng là thực dân Pháp trước đây đă chia VN làm ba kỳ, mỗi kỳ có một chính sách cai trị riêng. Tuy biết rằng có đoàn kết, có hợp quần mới có sức mạnh, mới có dồi dào khả năng để thực hiện một công tác nào đó như chống lại một cuộc xâm lăng chẳng hạn nhưng không phải là một việc dễ làm và ai cũng mau mắn nghe theo. Thuở sinh thời, Đảng Trưởng Trương Tử Anh từng nói: “Đoàn kết khó lắm, nhưng không có đoàn kết th́ khó ḷng có thể đánh lại được Cộng Sản.” [20]

Vào thời điểm năm 1936 là lúc chế độ thực dân Pháp c̣n tṛng ách đô hộ trên toàn lănh thổ Đông Dương, bản Tuyên Ngôn 1939 đă đưa ra được đường lối đấu tranh mà tính cách hữu dụng của nó đến nay cũng thấy c̣n có thể thực thi được như sau: “Hiện thời vấn đề cấp bách mà chúng ta phải giải quyết ngay là sự giải phóng cho dân tộc ta cả về mặt h́nh thức lẫn tinh thần cái ách ngoại tộc đè nén. Muốn đến đích, chúng ta không thể noi theo con đường nào khác là làm cho phát triển đến cực độ cái tinh thần quốc gia sẵn có rễ sâu cội chắc ở trong thâm tâm mọi người.”

Giải phóng dân tộc về mặt h́nh thức, như bản Tuyên Ngôn vạch ra, đó là giải phóng khỏi chế độ thực dân Pháp ngày xưa mà ngày nay là loại trừ những thành phần trong đảng và nhà nước CSVN theo TQ, làm tay sai cho TQ, sẵn sàng cúi đầu trước ngoại bang.

Giải phóng dân tộc về mặt tinh thần, như bản Tuyên Ngôn vạch ra, đó là giải phóng toàn bộ đời sống xă hội, văn hóa VN khỏi nền văn hóa Trung Cộng, một nền văn hóa tàn độc đă thay đổi nội dung kể từ khi đảng CSTQ của Mao Trạch Đông lên cầm quyền tại Hoa Lục năm 1949 cho đến thời đại của tập đoàn Hồ Cẩm Đào - Ôân gia Bảo hiện nay, một nền văn hóa coi đồng bào, đồng loại như súc vật, bởi v́ họ Mao đă từng là thủ phạm giết chết hơn 70 triệu đồng bào của y trong mấy chục năm Mao cầm quyền ở TQ không chút xót thương.

Chủ Nghĩa DTST không phải là một chủ nghĩa Dân Tộc cực đoan như trường hợp Việt Nam với Lê Duẩn sau ngày 30-7-1975. Nhà nghiên cứu Thân Tứ Long đă phân tích: “Sau khi chiến tranh chống Mỹ cứu nước thắng lợi, ḷng tự tin dân tộc của Việt Nam tiếp tục được tăng cường, tinh thần dân tộc chủ nghĩa càng dâng cao. Rốt cuộc th́ một nước nhỏ và yếu ở châu Á đă đánh bại nước Mỹ - cường quốc số một trên thế giới. Điều đó cũng khiến cho tập đoàn thống trị Việt Nam bắt đầu phát trương đầu óc, tự kiêu tự đại, bắt đầu đi đến cực đoan. Lê Duẩn dù làm Tổng Bí Thư đảng Cộng sản Việt Nam nhưng trên thực tế lại là một nhà dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Ông ta chịu ảnh hưởng sâu sắc từ truyền thống không ngừng mở rộng biên giới lănh thổ của các vương triều phong kiến Việt Nam lại kế thừa “y bát” Liên bang Đông Dương mà nhà cầm quyền thực dân Pháp xây dựng trước đó, nên về đối ngoại đă đẩy mạnh chủ nghĩa khuếch trương dân tộc Đại Việt, mang dă tâm khuếch trương đối với các nước Campuchia, Thái Lan, Lào, Trung Quốc.”[21]

Ngoài ra các định luật của chủ nghĩa DTST như cạnh tranh sinh tồn và hỗ tương sinh tồn cùng xu hướng biến cải có khả năng đưa ra những đáp ứng thích đáng trước những thách đố của t́nh h́nh đất nước hiện tại thí dụ trước sức ép của ngoại bang th́ dựa vào sức mạnh của toàn dân để làm một đối trọng (contre-poids) phản ứng lại (Cạnh tranh sinh tồn), liên kết các thế lực đồng minh bên ngoài để hóa giải sức ép của đối phương (Hỗ tương sinh tồn). Xu hướng biến cải của chủ nghĩa DTST là một kho vô tận các kế hoạch gồm chiến lược, chiến thuật nhằm ứng phó trong mọi hoàn cảnh để vô hiệu hóa các chiêu thức chính trị, quân sự, kinh tế của kẻ thù. Vấn đề quan trọng là những người thực thi chủ nghĩa có tấm ḷng chân thực với quốc gia hay không. 

Lời kết

Trong bài thơ Người Không Chết viết về Đảng Trưởng Trương Tử Anh năm 1950, nhà thơ Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy đă cô đọng lại mối tâm cảm của ḿnh về tác giả chủ nghĩa DTST qua một đôi ḍng xin trích lại xin làm kết từ của bài viết này như sau:

Kể từ lúc cả non sông Đại Việt

Đắm ch́m trong khói lửa ngập lưng trời

V́ bàn tay đẫm máu của lũ người

Vô tổ-quốc và của loài xâm-lược

Anh đă vội băng ḿnh lên phía trước

Để đàn em chậm chạp bước lần theo.

Bóng dáng Anh bỗng khuất dưới sương chiều

Và mất hút, không c̣n ai được thấy;

Nhưng đường lối Anh đi c̣n lại đấy,

Bọn chúng tôi theo măi quyết không lùi

V́ trong tim, trong cân-năo chúng tôi,

Cây “Sinh-tồn” đă đâm chồi nảy nhánh

Tung những hạt giống đầy mầm sống mạnh

Gieo khắp nơi trên dải nước non này.

Đời Anh đang sống với chúng tôi đây,

Nó sẽ sống với lớp người sẽ tới. [22]

Nguyễn Đức Cung

Philadelphia ngày 14-10-2010

·     (Bài nói chuyện trong buổi ra mắt tác phẩm Sống C̣n Với Dân Tộc, tác giả Hà Thúc Kư (1920-2008) do Đại Việt Cách Mạng Đảng và Đảng Tân Đại Việt tổ chức tại Houston, Texas, Hoa Kỳ ngày 31-10-2010).

CHÚ THÍCH:

1.-Hà Thúc Kư, Sống C̣n Với Dân Tộc, Phương Nghi ấn hành 2009, trang 369.

2.- Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, Tập I, Nxb. Khoa Học Xă Hội, 1998, trang 241.

3.- Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, quyển III, tờ 1 b, bản dịch của Viện Khoa Học Xă Hội Việt Nam, Nxb. Khoa Học Xă Hội, Hà Nội 1998, trang 270.

4.- Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, Sđd, trang 276.

5.- Toàn Thư, Sđd; Lữ Giang, Những bí ẩn đàng sau các cuộc thánh chiến tại Việt Nam, 1994, trang 54.

6.- Toàn thư, q.5, t. 44a; Hà Văn Tấn & Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Nxb. Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội 2003, trang 197.

7.- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Nxb. Tân Việt, bản in lần thứ bảy, Sài G̣n, 1964, trang 161.

8.- Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tập một, Nxb. Giáo Dục, 1998, trang 709.

9.- Cương Mục, Sđd, trang 723.

10.- Trần Trọng Kim, Sđd, trang 210.

11.-Trần Trọng Kim, Sđd, trang 229.

12.- Trần trọng Kim, Sđd, trang 230.

13.- Trần Trọng Kim, Sđd, trang 375.

14.- Nguyễn Đức Cung, Diên-Lộc Quận-Công Nguyễn Thân, Nxb. Nhật-Lệ, 2002, trang 8.

15.- Nguyễn Thế Anh, Nhập môn phương pháp sử học, Sài G̣n 1974, trang 18.

16.- Tuyên Ngôn Đại Việt Quốc Dân Đảng 1939, bản in tại Ha Kỳ tháng 11-1985, trang 12.

17.- Nhiều tác giả, Hồ Chí Minh, Sự thật về Thân thế  & Sự nghiệp, Nxb. Nam Á [Sudasie], Paris, 1990, trang 62

18.- Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, (nguyên bản có tên Nhất cá Việt Nam dân tộc chủ nghĩa đích ngụyy trang giả), Thượng Huyền dịch, Nxb. Văn Nghệ, 1999, trang 110.

19.- Ngô Vĩnh Long, Đàn áp để ổn định và phát triển: Mô h́nh Trung Quốc, Báo điện tử Thời Đại Mới, số 16, Tháng 7/2009.

20.- Bùi Diễm, Gọng ḱm của lịch sử, Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000, trang 142.

21.- Thân Tứ Long, Qua diễn biến của chủ nghĩa dân tộc cận đại Việt Nam đến nay, nh́n nhận tác dụng hai chiều của chủ nghĩa dân tộc, Hồng Tuấn dịch, Báo điện tử Talawas, số mùa Thu 2009, chuyên đề “Bao nhiêu chủ nghĩa dân tộc là đủ?”

22.- Đằng Phương, Thi tập Hồn Việt, tác giả xuất bản, bản in ở hải ngoại, do GS. Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa cung cấp.