Nguyễn Bá Cẩn

 

Đọc “Tiền Tam Giang Hậu Thất Lĩnh”

Của cựu dân biểu Dương Thanh Tồn

 

 

Tôi rất hân hạnh được đồng viện cựu Dân biểu Dương Thanh Tồn gởi cho tôi bản thảo tác phẩm của ông nhan đề “Tiền Tam Giang Hậu Thất Lĩnh”, với lời yêu cầu sau khi đọc nếu có chút hứng thú xin tôi ghi đôi ḍng cảm tưởng. Ông Dương Thanh Tồn sinh quán tỉnh An Giang, một trong những tỉnh trù phú miền Hậu Giang Nam phần. Lớn lên, ông theo đạo Phật Giáo Ḥa Hảo. Ông là dân biểu trẻ tuổi nhất trong số các đồng viện cùng thuộc khuynh hướng Phật Giáo Ḥa Hảo với ông. Sau khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, ông đi tù cộng sản và sau đó vượt biên bằng đường biển, ông qua tị nạn cộng sản tại Hoa kỳ và hiện cư ngụ với gia đ́nh tại Houston, Texas. Ông hoàn thành tác phẩm đầu tay của ông “Tiền Tam Giang Hậu Thất Lĩnh” (TTGHTL) để nói lên t́nh yêu mến quê hương của ông, một quê hương với những nét đặc thù về địa lư thiên nhiên, cũng như về đời sống tâm linh của người dân trong vùng, trong đó có gia đ́nh ông. Ông dành hầu hết quyển sách để nói về Phật Giáo Ḥa Hảo, một tôn giáo đă được Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ khai sáng ngay tại tỉnh nhà của ông, và vai tṛ của tôn giáo này trong đời sống tín ngưỡng và chính trị của người dân vùng đồng bằng sông Cửu. Trong Lời Tựa và trong gần nửa phần đầu của quyển sách, tác giả không ngớt ca tụng và hănh diện về quê hương của ḿnh. Thật vậy, An Giang là một tỉnh được ưu đăi. Trước hết được thiên nhiên ưu đăi v́ bao gồm sông núi và đồng bằng cân xứng hơn các tỉnh khác trong Nam. Sau đó được nhà cầm quyền ưu đăi, khởi sự từ hồi đời Chúa Nguyễn, và tiếp theo dưới thời Pháp thuộc cũng như đệ nhất và đệ nhị cộng ḥa, bất cứ dưới thời nào An Giang cũng được chăm sóc mở mang, đào kinh, đắp đường, khuếch trương nông nghiệp, phát triển kinh tế, chỉnh trang thị xă, biến đổi tỉnh này thành một tỉnh giàu có với tỉnh lỵ Long Xuyên tráng lệ vào bậc nhất miền Tây. Về địa lư, An Giang là tỉnh địa đầu của miền Nam, giáp ranh với Cam Pu Chia, nhờ đó mà hứng trọn sông Cửu Long khi con sông này đổ vào lănh thổ Việt Nam sau một hành tŕnh dài 4200 cây số. Tại đây, sông Cửu chia thành sông Tiền và sông Hậu, sau đó lại tách ra thành 9 nhánh hàng năm mang 475 tỷ thước khối nước chuyên chở 470 triệu tấn phù sa để vun bón đồng ruộng miền Nam nuôi sống người dân trong nước. Địa lư sông nước có giá trị kinh tế ảnh hưởng đến nhân văn thật vô cùng quan trọng. Ông cha ta đă sánh hệ thống ḍng sông này như chín con rồng mà văn hóa Việt Nam xếp vào loại linh vật. Cũng về địa lư, từ Long An cửa ngơ Đô Thành đến tận Cà Mau, các tỉnh miền Tây đều là đồng bằng đất thấp. Duy chỉ có An Giang cùng với láng giềng Hà Tiên được ban cho những dăy núi mà vị trí đă đóng một vai tṛ quan trọng không những về đời sống tín ngưỡng của người dân, mà c̣n ảnh hưởng mạnh đến những cuộc động quân chống giặc Pháp xâm lăng hồi cuối thế kỷ 19 cũng như trong cuộc chiến quốc cộng dai dẳng suốt 30 năm của thế kỷ vừa qua. Thật vậy, nói đến An giang là phải nghĩ ngay đến Thất Sơn, đến “Năm Non Bảy Núi”, đến Bửu Sơn, đến cái nôi của Phật Giáo miền Nam là Bửu Sơn Kỳ Hương, đến sự tiếp nối của Bửu Sơn Kỳ Hương là Phật Giáo Ḥa Hảo, đến Phật Thầy Tây An và lẽ dĩ nhiên đến Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ. Nói đến Thất Sơn là phải nói đến Núi Sam với rất nhiều chùa chiền được xây cất từ hơn trăm năm trước như Chùa Tây An là nơi Phật Thầy Tây An lập giáo. Núi Sam c̣n có Lăng Thoại Ngoại Hầu để thờ phượng một đại công thần lập quốc của triều Nguyễn, và Miễu Bà Chúa Xứ mà ngày Vía Bà hàng năm thu hút hàng trăm ngàn bá tánh thập phương đến cúng kiến vô cùng trọng thể. Ngoài yếu tố hoa địa huyền bí đă ảnh hưởng sâu đậm đến tín ngưỡng của một số rất đông đồng bào miền Nam, nhất là đồng bào miền Hậu Giang, nhiều nhà khảo cổ quốc tế và Việt Nam, sau những năm dài khai quật khảo cứu những cổ vật t́m được tại Núi Sập và Núi Ba Thê thuộc quận Thoại Sơn (An Giang) trong đầu thế kỷ vừa qua, đă kết luận đó là di tích của nền văn hóa Óc Eo và của Vương quốc Phù Nam trải dài từ Thái Lan đến bờ biển Trung Việt xuống tận lănh thổ Mă Lai, cực thịnh từ đầu Công nguyên cho đến thế kỷ thứ 7 th́ suy tàn. Do đó, tác giả có hănh diện với vùng “Tiền Tam Giang Hậu Thất Lĩnh” đầy linh thiêng huyền bí của tác giả cũng không có ǵ quá đáng. Tôi có dịp hợp tác với tác giả trong suốt 4 năm dài đệ nhị pháp nhiệm của Quốc hội VNCH. Thú thật tôi chưa được biết rơ thân thế của người bạn đồng viện của tôi. Đọc hết quyển TTGHTL, tôi mới biết được tác giả thuộc một gia đ́nh vô cùng mộ đạo, và sự kiện này đă gieo một dấu ấn đậm trong đời sống tâm linh của tác giả. Thật vậy, tác giả tâm t́nh “Nội tôi là người đang sống hạnh phúc ngoài xă hội như bao nhiêu người khác, bỗng nhiên ông giác ngộ sự đời, buông bỏ gia đ́nh, tiền bạc của cải lên núi lập chùa Bồng Lai Tự trên đỉnh Phụng Hoàng Sơn (hiện nay vẫn c̣n dấu tích) tu niệm cho đến ngày viên tịch. Một trong những người cô ruột đem cả quăng đời son trẻ vào chốn thiền môn, theo ông tôi tu ở Bồng Lai Tự, đă để lại một chuyện t́nh đẹp, trong trắng, đầy thơ mộng với bao nuối tiếc khôn nguôi”. Gần nửa phần đầu của quyển TTGHTL, được viết dưới dạng tiểu thuyết, mô tả toàn sự kiện t́nh tiết có thật ngoài đời, từ quê hương vừa đẹp, vừa quư, vừa linh thiêng huyền bí của tác giả ở vùng hoa địa cho đến thân thế gia đ́nh của chính tác giả mà cái đinh của câu chuyện là Bồng Lai Tự. Hơn nửa phần sau của quyển sách, viết dưới dạng biên khảo và tùy bút, tŕnh bày sự h́nh thành của Phật Giáo Ḥa Hảo, triết lư chủ trương của Phật Giáo Ḥa Hảo về Đạo và Đời cùng vai tṛ và ảnh hưởng của Đức Thầy trong đời sống tín ngưỡng của tín đồ và bổn phận công dân của tín đồ đối với tổ quốc. Tác giả Dương Thanh Tồn nhắc lại Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ khai sáng Phật Giáo Ḥa Hảo hồi năm 1939 tại làng Ḥa Hảo, Quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc cũ, nay thuộc tỉnh An Giang. Tiếp nối Bửu Sơn Kỳ Hương, PGHH chủ trương Học Phật Tu Nhân và đặt nặng Tứ Ân Hiếu Nghĩa, liên kết chặt chẽ Đạo và Đời, nói rộng hơn nữa là gắn liền Đạo Pháp với Dân Tộc. Hơn các quyển sách khác nói về PGHH, quyển TTGHTL tŕnh bày đầy đủ tài liệu nhất, giúp độc giả theo dơi từng bước đi của Đức Thầy thăm viếng khắp miền Nam để trị bệnh, thuyết pháp Phật học và Tứ Ân, giảng dạy kinh sấm, kết nạp một triệu tín đồ trong ṿng không đầy một năm, chuẩn bị mọi cơ cấu chính trị và quân sự trong tư thế sẵn sàng để tranh đấu giành độc lập cho đất nước. Năm 1945, đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh lănh đạo đă lợi dụng ḷng yêu nước của nhân dân và khoảng trống chính trị tiếp theo việc Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị để cướp chính quyền từ Bắc chí Nam. Riêng tại miền Nam, Phật Giáo Ḥa Hảo đă lớn mạnh với hàng triệu tín đồ. Đạo lư PGHH đề cao hạnh “Tứ Ân Hiếu Nghĩa”, đặt Ân Đất Nước đứng hàng đầu liền theo Ân Phụ Mẫu, có nghĩa người tu hành cũng có trách nhiệm chống xâm lăng ǵn giữ đất nước. Do đó, tuy đang lănh đạo Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp (MTQGLH) gồm có các tôn giáo, các đoàn thể và các nhân sĩ yêu nước kết hợp để đánh đuổi thực dân Pháp, Đức Thầy cũng đă chấp thuận hợp tác với Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ của Trần Văn Giàu, một cán bộ đệ tam cộng sản do Nga Sô đào tạo. Nhưng v́ chủ nghĩa Mác Lê chủ trương độc tài đảng trị và tiêu diệt tôn giáo, nên Trần Văn Giàu đă tổ chức ám hại Đức Thầy trong đêm 16 tháng 4 năm 1947 tại ngọn Rạch Đốc Vàng Hạ thuộc xă Tân Phú (Đồng Tháp). Rất may là Đức Thầy đă cho thành lập xong hai hệ thống chính trị là Việt Nam Dân Chủ Xă Hội Đảng gọi tắc là Dân Xă Đảng, và quân sự là Lực Lượng Kháng Chiến Miền Tây để tiếp tục sứ mạng giành độc lập và xây dựng tự do dân chủ cho đất nước. Không riêng ǵ Đức Thầy là nạn nhân của chính sách đàn áp tàn bạo của cộng sản. Tác giả có cơ duyên được nhà cách mạng lăo thành Trần Văn Ân là Ủy viên Chính trị của Trung Ương Việt Nam Dân Xă Đảng nói chuyện với tác giả về diễn tiến t́nh h́nh “Nam Bộ” từ lúc Cộng sản Đông Dương đội lốt “Việt Minh” cướp chính quyền hồi năm 1945 nên tác giả đă dành 4 chương (24-27) để tường thuật âm mưu thâm độc của cộng sản nhằm chia để trị và tuần tự tiêu diệt các tôn giáo và đoàn thể yêu nước trong Nam. Tuy cộng sản đă có Trần Văn Giàu cầm đầu chính quyền miền Nam nhưng Trung Ương đảng ngoài Bắc vẫn gởi một bộ phận gồm có Hoàng Quốc Việt và Nguyễn B́nh vào giám sát trong Nam. Đặc biệt Nguyễn B́nh có trách nhiệm t́m mọi cách thống nhất các lực lượng vơ trang kháng chiến trong Nam (lẽ dĩ nhiên bao gồm luôn cả lực lượng vơ trang của các phe phái quốc gia như B́nh Xuyên, Cao Đài và Ḥa Hảo) dưới quyền lănh đạo của cộng sản. Trước sự chống đối của các phe phái quốc gia miền Nam, lần lượt Cộng sản giết hại thủ tiêu các nhân vật thuộc hàng ngũ lănh đạo của các phe phái này như Dương Văn Dương (Lănh tụ B́nh Xuyên), Huỳnh Thạnh Mậu (bào đệ Đức Thầy), Nguyễn Văn Sâm và BS Trần Văn Tâm (Ủy viên Ngoại Giao và Ủy viên Trung Ương Việt Nam Dân Xă Đảng (Ḥa Hảo), Tạ Thu Thâu (Đệ Tứ), và những nhà trí thức yêu nước khác như Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Bùi Quang Chiêu v.v... Cùng lúc, bọn Hoàng Quốc Việt ra lệnh thẳng tay đàn áp và công khai hành quyết hàng loạt tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo tại các tỉnh miền Tây. Cũng theo lời cụ Trần Văn Ân tường thuật với tác giả, sở dĩ trong những năm sau 1945 cộng sản miền Nam như Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Trấn v.v... đă khuynh đảo được các đảng phái quốc gia mạnh hơn bọn chúng bội phần, giành được độc quyền yêu nước để rồi sau cùng áp đặt độc tài đảng trị là v́ bọn chúng được sự yểm trợ của một số trí thức trong Nam nhiệt t́nh yêu nước nhưng dốt nát chính trị và dăy đầy tham vọng như Ung Văn Khiêm, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ v.v... Trên đây là bài học mà tác giả rút tỉa được để tŕnh bày với độc giả. Có lẽ độc giả cũng đồng ư là bài học đă quá ư rơ ràng thế mà sau khi đất nước bị chia hai hồi 1954 vẫn có một bọn người miền Nam ngu muội tiếp tục giẫm lên vết xe cũ như Nguyễn Hữu Thọ, Trương Như Tảng, Dương Huỳnh Hoa, v.v... và 20 năm sau, hồi 1975, lại có những nhân vật không cộng sản khác tự xưng là thành phần thứ ba như Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẩu mù quáng tin tưởng vào chiêu bài phỉnh gạt “ḥa giải ḥa hợp” của cộng sản để dâng miền Nam cho bọn chúng “trên mâm bạc”. Chưa hết. Mặc dù hiện nay cộng sản vẫn c̣n đang đàn áp bóc lột trắng trợn người dân và đang biến đất nước Việt Nam thành một trong những nước nghèo đói nhất và lạc hậu nhất trong tổng số gần 200 quốc gia trên thế giới, và mặc dù những tay sai bất đắc dĩ hồi trước đă sám hối, gào thét, chống đối và công khai lên án cộng sản như Trương Như Tăng, Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn, Trần Độ v.v... hoặc bày tỏ hối tiếc và mỉa mai chính ḿnh như Mai Văn Bộ và Dương Huỳnh Hoa, nhưng tiếc thay vẫn c̣n một số người vốn dĩ là “tỵ nạn cộng sản”, v́ đă từng nắm những địa vị cao trong các môi trường chính trị, văn hóa, khoa học của miền Nam trước 1975, nay đă xoay chiều, trơ trẽn ca tụng cộng sản và hô hào hải ngoại nên mang tài nguyên, nhân tài, vật lực về giúp đỡ cộng sản xây dựng đất nước. Tôi sinh trưởng tại Cần Thơ, khi khôn lớn được hân hạnh phục vụ đất nước suốt 10 năm tại các tỉnh Định Tường, Long An và Phước Tuy là những tỉnh mà 18 năm trước Đức Thầy đă đến thuyết pháp và phát triển lực lượng PGHH, những tỉnh mà với cương vị lănh đạo từ quận lên tỉnh, tôi có dịp hợp tác với tín đồ PGHH có mặt trong hầu hết mọi ngành hành chánh và quân sự. Trên b́nh diện quốc gia, với tư cách Tổng Bí Thơ đảng Công Nông Việt Nam và Chủ Tịch Hạ Nghị Viện VNCH, tôi có dịp hợp tác chặt chẽ với các hệ PGHH nói chung trong các chương tŕnh nâng đỡ nông dân thuộc khuynh hướng Ḥa Hảo, và với các vị nghị sĩ và dân biểu thuộc khuynh hướng này trong lănh vực lập pháp.

Với tương quan và kinh nghiệm hợp tác với PGHH trải dài suốt 18 năm trong quá khứ (1957-1975), tôi xác nhận tác giả đă tŕnh bày những sự kiện và biến cố trong quyển sách một cách trung thực và vô tư, với những nhận xét thành thật tự trong ḷng của tác giả. Quyển sách là một tài liệu quư cho các sử gia và những ai muốn t́m hiểu về Phật Giáo Ḥa Hảo và nói riêng về địa lư nhân văn của An Giang, quê hương của tác giả.

Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn Chủ Tịch Hạ Nghị Viện và Thủ Tướng Chính Phủ Việt Nam Cộng Ḥa